Sau những ngày đầu triển khai xăng sinh học E10 từ ngày 1/6, phóng viên ghi nhận tình hình thị trường cơ bản ổn định. Đó là nguồn cung được đảm bảo và bước đầu nhận được những phản hồi tích cực từ phía người dân.
Xăng E10 là bước khởi đầu
Tại Hội thảo “Chuyển dịch năng lượng – Động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số”, do Báo Lao Động phối hợp với Bộ Công Thương tổ chức chiều 9/6, TS Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) cho biết, những kết quả bước đầu trong những ngày đầu triển khai xăng E10 trên phạm vi toàn quốc từ ngày 1/6 đến nay đã cho thấy thị trường cơ bản ổn định, nguồn cung được bảo đảm, người dân đón nhận tích cực hơn.
Điều này một lần nữa khẳng định: “Khi chính sách được chuẩn bị kỹ lưỡng, có lộ trình phù hợp và được truyền thông đầy đủ thì hoàn toàn có thể tạo được sự đồng thuận xã hội”, TS Đào Duy Anh nói.

TS Đào Duy Anh nhìn nhận, trong tổng thể quá trình chuyển dịch năng lượng, việc triển khai xăng sinh học E10 từ ngày 1/6 vừa qua là một giải pháp của quá trình chuyển dịch, là một bước đi cụ thể và thiết thực về chuyển đổi xanh trong sử dụng nhiên liệu.
Có thể nói, xăng E10 không phải là đích đến, mới là bước khởi đầu và chúng ta cần phải nhìn nhận rằng ý nghĩa lớn nhất không chỉ nằm ở tỉ lệ 10% ethanol trong mỗi lít xăng mà điều quan trọng hơn là E10 đã mở ra cơ hội phát triển cho ngành công nghiệp sản xuất nhiên liệu mới: Chuỗi giá trị nguyên liệu, sản xuất, cung ứng, sử dụng nhiên liệu xanh hơn, sạch hơn, có giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế.
Trong thời gian tới, nhiệm vụ của chúng ta không chỉ là triển khai thành công lộ trình xăng E10 mà quan trọng hơn là tiếp tục phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực năng lượng, phát triển mạnh các nguồn năng lượng xanh, thúc đẩy các mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững, nâng cao tỉ lệ nội địa hóa trong chuỗi cung ứng năng lượng và từng bước phát triển các ngành công nghiệp mới dựa trên lợi thế của quá trình chuyển đổi xanh.

Chia sẻ về xăng E10, PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, Hiệp hội tư vấn Tài chính Việt Nam nhấn mạnh, Việt Nam không thể hiểu chuyển dịch năng lượng chỉ là câu chuyện của ngành điện, trong khi giao thông vận tải vẫn tiêu thụ lượng lớn xăng dầu truyền thống. Việc khuyến khích sử dụng xăng sinh học E10 là một ví dụ cụ thể.
Tuy nhiên, PGS.TS Ngô Trí Long lưu ý, xăng E10 không thể thành công nếu chỉ ban hành lộ trình hành chính. Điều quan trọng là phải bảo đảm chất lượng nhiên liệu, năng lực phối trộn, hệ thống phân phối, kiểm định phương tiện, truyền thông rõ ràng để người dân hiểu, doanh nghiệp yên tâm và thị trường vận hành thông suốt.
Bài học từ xăng E5 trước đây cho thấy một chính sách đúng vẫn có thể không đạt kỳ vọng nếu thiếu niềm tin thị trường, thiếu truyền thông minh bạch và thiếu lợi ích đủ rõ cho người tiêu dùng.
Đặc biệt, là niềm tin của người tiêu dùng với xăng sinh học được ông Long nêu ra. Với xăng E10, bài học quan trọng là người dân cần được giải thích rõ: Xăng E10 là gì, có phù hợp với phương tiện hay không, chất lượng được kiểm soát thế nào, giá cả ra sao, lợi ích môi trường và lợi ích kinh tế là gì. Nếu người tiêu dùng còn băn khoăn, thị trường sẽ khó chuyển đổi mạnh dù chính sách đã có.
TS Đào Duy Anh cho rằng, thực hiện tốt các nhiệm vụ đã đặt ra về tăng trưởng xanh thì chuyển dịch năng lượng sẽ trở thành một động lực tăng trưởng mới, giúp nâng cao năng suất lao động; giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, nền kinh tế phát triển nhưng phát thải carbon thì giảm đi, góp phần giảm biến đổi khí hậu toàn cầu. Là nền tảng để Việt Nam tham gia hiệu quả hơn vào cuộc đua công nghệ xanh đang diễn ra trên toàn thế giới, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao và người dân được thụ hưởng một môi trường sống trong lành vào năm 2045.
Điện hóa giao thông – Xu hướng tất yếu của thế kỷ XXI
TS Nguyễn Xuân Quang, Viện Công nghệ Năng lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho rằng, tại Việt Nam, giao thông vận tải tiêu thụ khoảng 20–25% tổng năng lượng cuối cùng của nền kinh tế và là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính tăng nhanh nhất. Do đó, việc thay thế phương tiện chạy xăng dầu bằng phương tiện chạy điện không chỉ là giải pháp giảm phát thải mà còn là một phần quan trọng của chiến lược chuyển dịch năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, sự thay thế này sẽ làm tăng đáng kể nhu cầu điện quốc gia.
Điều này không chỉ đòi hỏi bổ sung nguồn điện mới (ưu tiên tái tạo) mà còn yêu cầu đầu tư mạnh vào hạ tầng lưới điện thông minh, hệ thống lưu trữ và trạm sạc, nhằm tránh quá tải cục bộ vào giờ cao điểm sạc pin đồng thời phải có chính sách về giá điện linh hoạt hơn để không khuyến khích sạc pin vào khung giờ cao điểm tránh áp lực đầu tư nguồn điện chắc chắn mới.
Một trong những tác động quan trọng nhất của xe điện không nằm ở tổng sản lượng điện tiêu thụ mà nằm ở sự thay đổi biểu đồ phụ tải. Hiện nay, phụ tải điện của Việt Nam thường đạt đỉnh vào buổi tối và nếu hàng triệu phương tiện điện cùng được sạc sau giờ làm việc, hệ thống điện có thể phải đối mặt với một dạng phụ tải mới có quy mô rất lớn.
Vì vậy, chuyển dịch năng lượng trong tương lai không chỉ là bài toán xây dựng thêm nguồn điện mà còn là bài toán quản lý phụ tải thông minh.

Theo TS Nguyễn Quốc Việt, Giảng viên Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), quá trình chuyển dịch năng lượng không chỉ đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn mà còn cần một môi trường chính sách ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo cao để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
TS Nguyễn Xuân Quang cho rằng, chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam đang ở giai đoạn quan trọng. Để chuyển đổi hiệu quả, cần đẩy nhanh đầu tư hạ tầng lưới điện và hệ thống lưu trữ năng lượng theo hình thức đối tác công tư. Hoàn thiện Luật Điện lực theo hướng thị trường hóa, rút ngắn thủ tục hành chính. Thúc đẩy quan hệ đối tác chuyển tiếp năng lượng công bằng một cách thực chất, kèm theo cơ chế bảo lãnh rủi ro cắt giảm sản lượng. Ưu tiên phát triển nhiệt điện khí và các nguồn linh hoạt làm cầu nối chuyển tiếp. Cải cách cơ chế giá điện theo hướng thị trường, áp dụng giá hai thành phần, giá theo vị trí và theo khung giờ sử dụng, đồng thời có chính sách hỗ trợ phù hợp cho vùng sâu, vùng xa.
Tăng cường sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghệ cao và giá trị gia tăng. Quy hoạch đồng bộ giữa ngành điện và giao thông để ứng phó với nhu cầu điện tăng từ phương tiện điện hóa. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực và thực hiện chuyển đổi công bằng.